Bằng chứng gắn với bản kê khai cho giao thức tài chính trên chuỗi
Tóm tắt
Bài nghiên cứu trình bày kiến trúc bằng chứng để đánh giá quy trình trong các hệ thống tài chính lai trên chuỗi. Một bản kê khai được niêm phong ghi lại danh tính hệ thống, vai trò, lược đồ và thông tin phát hành; bảy lớp bằng chứng được lưu giữ cùng các dẫn xuất đã đăng ký và một mã định danh tương quan chung. Các tuyên bố chỉ được nâng cấp khi nguồn gốc, điều kiện gốc liên quan, kiểm soát âm, đóng gói có thể tái lập, phát lại lịch sử và đánh giá độc lập đều đáp ứng yêu cầu đã nêu. Chỉ khớp hàm băm là chưa đủ để chứng minh bằng chứng được tạo ra độc lập.
Một nghiên cứu tình huống đã đăng ký theo dõi mười hai xác nhận tài chính qua bằng chứng được lưu giữ, hiện thực hóa lặp lại, xác minh kho lưu trữ và phát lại có thứ tự gắn với gói kết quả. Một xác nhận gồm cả trường hợp trạng thái cũ trước khi tiếp nhận và thay đổi kỳ sổ trong lúc xử lý. Bài nghiên cứu cũng mô tả cách các cam kết phát hiện những dạng can thiệp cụ thể và cách ghi nhận hiệu ứng tài chính xảy ra đúng một lần. Kết luận liên quan đến khả năng xem xét chuỗi bằng chứng này; chúng không chứng minh mọi giao thức đều an toàn hay các xác nhận quan sát được dự đoán hành vi tương lai. Bài phân biệt danh tính lịch sử ban đầu với các chứng thực về sau rằng kết quả có thể được tái lập.
Ý chính
- Bản kê khai được niêm phong liên kết danh tính hệ thống và thông tin phát hành đã khai báo với hồ sơ bằng chứng.
- Bảy lớp bằng chứng cần có dẫn xuất đã đăng ký và một danh tính tương quan chung.
- Bản thân việc các hàm băm khớp nhau không chứng minh bằng chứng được tạo độc lập.
- Việc nâng cấp tuyên bố kết hợp nguồn gốc, điều kiện gốc, kiểm soát âm, phát lại, khả năng tái lập và đánh giá độc lập.
- Danh tính lịch sử và chứng thực khả năng tái lập về sau là hai loại bằng chứng khác nhau.
Thẻ
Toàn văn
# 2610.02838 # Axient: Manifest-Bound Evidence for On-Chain Financial Protocols: Seven-Layer Derivation, Correlation, Tamper Rejection, and Reproducible Claim Promotion Hybrid on-chain financial protocols are frequently evaluated with evidence that is individually useful but collectively insufficient: a unit test, transaction receipt, screenshot, service response, or several matching hashes may be presented as proof of a complete workflow even when the layers share one generated source or omit the financial authority that matters. This paper develops a manifest-bound evidence architecture for such systems. A sealed execution manifest binds declared system identities, roles, schemas, and release identity. Seven evidence layers are retained with registered derivations and linked by a common correlation identity. A conjunctive claim-promotion rule requires provenance, predicate-specific root conditions, negative controls, reproducible packaging, historical replay, and independent review in addition to hash equality. We formalize the evidence graph, prove that copied hashes cannot establish independent derivation, show how collision-resistant commitments make specified tampering detectable, define exactly-once financial-effect evidence, and distinguish original historical identities from later reproducibility attestations. The registered local case study records twelve parent Financial Interaction Assertions in one accepted cohort: 84 retained ACTUAL_EVIDENCE positions, two clean materializations with one byte-identical file index, a deterministic strict archive accepted by a separate verifier, and a selected ordered replay bound to that archive. FIA-011 is conjunctive and retains both stale-before-admission and book-epoch-change-mid-position subcases. The result demonstrates a reviewable chain of custody from financial assertion to replay-bound package while preserving the difference between observed evidence, interpretation, and future hypotheses.
Hiển thị toàn văn kèm ghi nguồn theo giấy phép của tài liệu gốc. Giấy phép: abstract CC0
Bản tóm tắt này do tác nhân nghiên cứu của Stratmill biên soạn từ tài liệu gốc; đây không phải bản sao của tài liệu.